FACEBOOK

Hỗ Trợ Trực Tuyến

      0974 191 044 

      0983 188 663

BẢN ĐỒ

Thống kê truy cập:

086547

 Hôm nay: 13
 Hôm qua: 17
 Trong tuần: 42
 Trong tháng: 297
 Trong năm: 1642
 Tổng số: 86547
Đang Trực Tuyến: 1
Banner Banner cachepgiongiare

CẢI TIẾN KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHÌNH TẠI VIỆT NAM

 

I. TÌM HIỂU VỀ CÁ CHÌNH

1.  Phân bố:

Trên thế giới: loài cá chình phân bố nhiều ở Philippine, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, v...v…

Ở Việt Nam: tập trung nhiều ở các sông thuộc các tỉnh như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và kéo dài tới Bình Thuận Nam Trung Bộ, thường gặp nhất là cá chình mun và cá chình hoa.

 

2. Tập tính sinh trưởng:

- Cá chình là loài cá có tính thích ứng rộng với độ mặn, cá có thể sống được ở nước mặn, nước lợ và nước ngọt.

- Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc vào hang, kẹt đá, dưới đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm ăn và di chuyển đi nơi khác.

- Nhiệt độ từ 1-38 độ C cá có thể sống được nhưng trên 16 độ C cá mới bắt mồi. Nhiệt độ sinh trưởng là 17 - 31 độ C, thích hợp là 22 - 28 độ C.

- Da và ruột cá có khả năng hô hấp, dưới 16 độ C chỉ cần giữ cho da cá ẩm ướt là cá có thể sống được vài ngày. Trời mưa cá hoạt động rất khoẻ, bò, trườn lên bờ nơi có dòng nước chảy để tìm đường di chuyển .

- Cá chình cần hàm lượng oxygen hoà tan trong nước cao, phải trên 4,5ppm mới  thích hợp cho sinh trưởng, nếu oxygen vượt quá 11 mg/l dễ sinh ra bệnh bọt khí.

 

3. Đặc điểm hình thái, tập tính cá chình

- Cá chình có thân thon dài, lưng thân bông vàng, bông ựng cẩm thạch, bụng trắng, đầu nhọn và dài.

- Da nhiều nhớt, có tác dụng hô hấp qua da.

- Vây lưng, vây hậu môn rất dài và nối liền với vây đuôi, vây ngực tròn ngắn, không có vây bụng.

- Phần lớn các loài cá chình ưa thích sinh sống trong các vùng nước nông hay ẩn mình dưới đáy, đôi khi trong các lỗ. Các lỗ này gọi là lỗ cá chình. Một vài loài cá chình sinh sống trong các vùng nước sâu (chúng có thể xuống tới độ sâu vài ngàn m) hoặc là những loài bơi lội tích cực (tới độ sâu 500 m).

 

4. Sinh sản

Cá chình là loài cá di cư, cá mẹ đẻ ở biển sâu, cá con sau khi nở trôi dạt vào bờ ven biển, cửa sông, nơi cá bố mẹ xuất phát đi ra biển sinh sản ban đầu và vào vùng nước ngọt, sông, suối kiếm mồi và lớn lên. Khi trưởng thành đến thời kỳ sinh sản cá lại di cư trở lại ra biển sâu để đẻ trứng.

Cá con mới nở hình lá liễu có màu trắng như thủy tinh, sau 165 ngày cá con trôi dạt vào cửa sông. Trải qua nhiều biến thái hình thành cá chình màu trắng gọi là bạch tử, cá ngược dòng lớn hơn thay đổi thành màu hơi đen nâu gọi là hắc tử.

 

Cá chình được 6 tháng tuổi

 

Việc sinh sản nhân tạo cá chình đến nay vẫn chưa có ai nghiên cứu thành công, tất cả cá chình giống nuôi hiện nay đều dựa vào khai thác từ tự nhiên ngoài cửa sông, suối hoặc ven biển.

Ở nước ta cá chình phân bố từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận, nhiều nhất là đầm Châu Trúc - Bình Ðịnh và sông Ba - Đà Rằng, Phú Yên ). Nơi này, hằng năm cung cấp một lượng lớn cá chình giống cho bà con nông dân.

Người ươm giống cá chình có thể làm thay đổi tập tính cá chình như giảm sợ ánh sáng và cho ăn ban ngày, ăn nổi, kỷ thuật nuôi không cần giảm ánh sáng, cho ăn thức ăn công nghiệp, cá cũng không còn sợ tiếng động bên ngoài, …v…v…

 

II. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU TRONG KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHÌNH

1. Chọn địa điểm:

Cá chình là loại sống ở nước ngọt nhưng sinh sản ở nước mặn (biển sâu) nên loài cá này nuôi được ở tất cả các nơi có nguồn nước ngọt và nước lợ độ mặn dưới 10%.

a) Khu vực Đông Bắc Bộ như Hải Phòng, sông Bạch Đằng, sông Giá, sông Hải Dương, các ao đầm khu vực Sóc Sơn lân cận Hà Nội.

b) Các dòng sông Miền Trung như: sông Hương, sông cửa động Phong Nha, Trà Khúc, tất cả các sông thuộc miền Trung.

c) Nhiều ao hồ có diện tích lớn như: Bà Nà - Đà Nẵng, đầm Châu Trúc, đầm hồ chứa nước chống lũ và đầm chứa nước phục vụ nông nghiệp …v..v...

d) Khu vực vùng Tây Nguyên: Buôn Mê Thuột, Gia Lai, Đắk Nông, vùng ven Lâm Đồng, Kon Tum, vùng Tây Nguyên có rất nhiều ao hồ nuôi được cá chình .

e) Vùng Miền Đông: Bà Rịa Vũng Tàu, khu vực huyện Đất Đỏ, hồ đá đen, hồ đá bạc, sông Rây  và có nhiều ao, đầm lấy đất xây dựng còn bỏ trống, sông La Ngà, Đồng Nai, lòng hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng và nhiều đầm, ao khác.

Khu vực ĐBSCL nuôi bè trên các dòng sông, nuôi theo ven sông như: sông Tiền Giang, sông Hàm Luông, sông Ba Lai, sông Cổ Chiên, sông Hậu…v….v… bà con có thể nuôi ao hồ ven sông, nuôi lồng trong ao đất, nuôi trong đê bao ngăn mặn và nhiều ao đầm khác.

 

Cá chình bông vàng đang được nuôi nhiều ở các tỉnh ĐBSCL

 

Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An và các tỉnh ven biển nuôi được cá chình nhờ giếng khoan.

Theo sự tiến bộ hiện  nay, chỗ nào có nước ngọt là nuôi được cá chình thương phẩm.    

 

*Lời khuyên:

Tuy loài cá chình dễ nuôi nhưng người muốn nuôi cá chình phải nắm được kỹ thuật trước khi nuôi, biết được ở đâu có thể nuôi được cá chình, ao như thế nào nuôi được cá chình, thiết kế ao cho phù hợp theo đối tượng nuôi, tùy diện tích đất từng vùng nuôi và quy mô lớn hay nhỏ. Tốt nhất nên nuôi những ao diện tích dễ kiểm soát được.

 Khu vực miền Trung nên nuôi lồng, bè, để tránh bão lũ, dễ quản lý.

Vùng có nguồn nước cung cấp như lòng hồ, nguồn nước sông có độ an toàn đầu nguồn, không bị chất thải của các nhà máy công nghiệp, tránh vùng làm nông nghiệp sử dụng nhiều thuốc trừ sâu và các vùng nuôi cá tạp khác sử dụng nhiều hóa chất kháng sinh.

Tránh vùng bão lụt và không nên nuôi ao đất cát ven biển vì ao đất cát không giữ được nước (nếu xử lý không được). Cần chọn nơi thuận tiện giao thông, an ninh và nhân lực.

Có nhiều địa điểm nuôi cá chình rất lý tưởng như:  vực Miền Bắc, khu vực này tuy thời tiết thay đổi nhưng nuôi cá chình nhanh lớn, thịt thơm ngon và các tỉnh thượng nguồn ĐBSCL, vùng lân cận Tây Nguyên, những nơi này nguồn nước tốt được cung cấp quanh năm, nhiệt độ thích hợp (những hộ chưa biết nuôi hay chưa từng nuôi cá chình nên tìm hiểu kỹ trước khi nuôi không nên mạo hiểm) nếu bà con chưa biết nuôi thì tham khảo nhiều nơi và nhiều người đã biết nuôi trước đây và nuôi đã có lãi.

 

III. NHỮNG ĐIỀU KIỆN THÍCH HỢP CHO VIỆC NUÔI CÁ CHÌNH.

1.Những điều kiện khi lập trang trại nuôi cá chình:

* Những yêu cầu cần thiết:

 

Các thông số môi trường

Thích hợp

pH nước

pH đất đáy ao                             

6,8 -7,5

5,5-6,5

Oxy hòa tan (mg/L)        

5.0- 7.9

Nhiệt độ (0C)                  

1- 37 (thích hợp 22-28oC)

Độ mặn (ppt)   

0- 34 ( thích hợp 0-10)

Độ trong (cm)                           

30-40

Độ cứng (mg/L)   

3 – 8

Ammonia tổng (mg/L)                   

0,03-1,6

Nitrite nitrogen –NO2-N (mg/L)   

0,12- 1

 

* Các thông số môi trường không phù hợp, hướng xử lý điều chỉnh môi trường như sau:

 

Các thông số môi trường

Thấp nhất

Cao nhất

Phương pháp điều chỉnh

pH nước

6,0

8,0

- pH thấp <6,0 điều chỉnh tăng   Dolotech,

-pH> trên  7,6 tăng vitamin C

Oxygen hòa tan (mg/L)

4,5

7,9

Tăng cường máy sục khí

Nhiệt độ (0C)

20

32

Tăng mực nước

Độ mặn (ppt)

0

10

Điều chỉnh theo yêu cầu

Độ trong (cm)

30

50

Tăng ANOLITE và blooma

Độ kiềm (mg/L)

10

60

 

Ammonia tổng (mg/L)

0,03

1,6

Thay nước sử dụng vi sinh

Nitrite nitrogen (mg/L)

0,12

1

Sục khí

Tảo lam xuất hiện trong ao

 

 

Sử dụng sản phẩm ZOOD CuO4

 

2. Độ mặn:

 

Thường xuyên kiểm tra độ mặn trong nước

 

Độ mặn ban đầu 10 % ( S ) điều chỉnh xuống dần về 0-5 %   

Cả cuộc đời cá chình sống ở nước ngọt nhưng trong thời kỳ sinh sản lại ở nước mặn và trong quá trình biến thái thay đổi trở thành cá bạch tử cá chình sống ở nước mặn, vì vậy trong giai đoạn đầu người nuôi nên giảm độ mặn từ từ, không nên thay đổi từ nước mặn qua nước ngọt một cách đột ngột, như thế cá dễ bị yếu do sốc độ mặn.

Nên nuôi cá chình trong nước ngọt hoàn toàn cá sẽ nhanh lớn hơn nước có độ mặn và lợ.

 

3. Dưỡng khí :

a) Oxygen

Đây là yếu tố quan trọng nhất trong ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và cá chình nói riêng.

Ở đây tôi xin nhắc lại một ý kiến đáng ghi nhớ được các nhà khoa học trên thế giới đề cập nhiều lần.

Đối với con người, nếu như có một lý do nào đó không có thực phẩm để ăn thì sẽ chết đói trong 7 tuần lễ, nếu bị thiếu nước, không nước uống sẽ bị chết khát sau 7 ngày nhưng nếu không có không khí thì sẽ chết ngạt sau 7 phút.

Kinh nghiệm với ba số 7 này cho thấy vai trò của oxygen đối với con người là rất cần thiết và dĩ nhiên đối với cá chình cũng vậy.

 

b) Thành phần cung cấp oxygen:

Ban ngày, 89% Oxygen trong ao do quang hợp, 7% mặt tiếp cận, 4% do thay nước.

Ban đêm cần máy cung cấp oxygen, 4,5ppm Oxygen trong nước là đủ cho cá hô hấp và lớn nhanh.

Triệu chứng thiếu Oxy trong ao: cá nổi theo thành ao, tập trung gần mặt nước, cá bu vào vị trí dẫn nước vào ao hoặc dọc theo bờ ao, cá gia tăng hô hấp nhưng giảm di chuyển, hôn mê và chết. Nếu cá chết do thiếu oxy thì cá há mồm, con nào to hoặc yếu sẽ chết trước.

Đo Oxygen trong ao 1 ngày 2 lần với máy đo Oxy (D.O.meter)

Nói về oxygen hòa tan, mắt thường không thể nhìn thấy, cần phải kiểm tra bằng máy D O mới biết được hàm lượng oxygen hòa tan trong nước, cá chình là loại cần oxygen cao 4,5ppm trở lên, nhưng loại cá này tiêu thụ ít, nếu muốn nuôi cá chình nhanh lớn và không chết do thiếu oxygen thì bà con cần cung cấp thêm bằng cách chạy máy oxygen (máy thổi khí qua đĩa cung cấp oxygen hòa tan từ đáy ao).

Tầm quan trọng của oxygen được phân tích như sau: do không cung cấp thêm oxygen thì mấy ngày thiếu ánh sáng như trời mưa kéo dài lượng oxygen hòa tan thấp cá sẽ kém hoặc bỏ ăn, nếu oxy quá thấp kéo dài cá có thể chết.

Các thử nghiệm ao cá có máy oxygen và ao không có máy cung cấp oxy, ao có cung cấp oxygen cá lớn nhanh, giảm được 20% thời gian nuôi và giảm 15% lượng thức ăn, đồng thời nếu ao nuôi cá có máy oxygen thì nuôi mật độ tăng thêm rất nhiều so với nuôi bình thường không cung cấp oxygen.

Ao có cung cấp oxygen thì mật độ nuôi được 3 - 5con /1m2 = (4 - 10kg cá thịt /1m2 ), ao nuôi không máy oxy chỉ nuôi được 1con /3m2

 

4.  Độ pH

Môi trường nước nuôi cá chình độ pH thích hợp từ 6,8 - 7,5,  PH cao hơn mức cho phép thì cá giảm ăn và chậm lớn, khác biệt với nguồn nước của những nơi do đê bao ngăn mặn gần biển, trong đê bao ngăn mặn PH 7.0.- 8, PH đáy ao: 5 – 6,5.

 

5. Độ đục: 30 – 40 cm

Màu nước nuôi cá chình rất quan trọng, cá chình sống ở thiên nhiên, thường ở suối là môi trường nước trong & sạch.

Chính vì vậy, người nuôi cá chình nên xử lý nước luôn trong sạch, đo đĩa 30 - 40 cm, ao nuôi cá có nguồn nước cung cấp quanh năm, nên thay nước thường xuyên, nước càng trong sạch càng hạn chế lượng kim loại và khí độc có trong môi trường nước thì cá càng khỏe và nhanh lớn, cần xử lí triệt để những dư lượng có yếu tố nguy hại khi nuôi cá chình.              

                                      

IV. THỨC ĂN

1. Chọn thức ăn:                                              

Cá chình trong thiên nhiên là loại ăn tạp, thức ăn chủ yếu là tôm, cá con, động vật sống tầng đáy nhỏ và côn trùng thủy sinh, khi còn nhỏ cá chình ăn động vật phù du nhóm Cladocera và giun ít tơ. Có nhiều người nuôi cá chình rất lâu nhưng chỉ biết cho ăn bằng động vật tươi sống như trùng quế, trùng chỉ, cá con, cá tạp, cá biển ...v...v..

 Nếu cho cá chình ăn bằng thức ăn tươi độ đạm thấp, cá chậm lớn sẽ kéo dài thời gian nuôi, ngoài ra thức ăn tươi còn gây ô nhiễm nguồn nước và tạo ra hàng loạt kí sinh trùng nguy hiểm, cá rất dễ nhiễm bệnh.

Đáng chú ý nhất là cá chình trong giai đoạn còn nhỏ, người nuôi cắt cá tươi cho ăn có khi các mảnh xương đầu nhọn đâm vào ruột già hay ruột non cá làm cá suy yếu và chết. Cá chết do xương đâm vào ruột, người nuôi khó xác định được nguyên nhân sao cá chết, vì lúc này, trong bụng cá bị trống, không chứa thức ăn nên không bị chướng bụng nhiều, cá chết sẽ chìm dưới đáy ao.

 

2. Ưu điểm của thức ăn công nghiệp & thức ăn chế biến:

Cá chình cũng như các loài thủy sản khác, thức ăn cá chình gồm các thành phần chính: đạm (Protein), chất béo (lipit), đường, tinh bột, chất bổ dưỡng (vitamin), chất khoáng và nhiều thành phần khác

Để đủ các thành phần nói trên cần phải sử dụng thức ăn công nghiệp 40%, thức ăn thiên nhiên 60%.

- Thức ăn công nghiệp có độ đạm cao cá ăn nhanh lớn.

- Thức ăn công nghiệp chậm ô nhiễm nguồn nước và dễ xử lí môi trường.

- Thức ăn chế biến, kể cả xương cá cũng được xay nhuyễn nên cho cá ăn rất tốt.

- Tính kinh tế: thức ăn công nghiệp rẻ tiền hơn thức ăn tươi.

- Cá nhanh lớn rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí đầu tư.

- Các trang trại và bà con nuôi có quy mô lớn cho ăn thức ăn công nghiệp sẽ chủ động được thức ăn, cho ăn thức ăn tươi rất khó khăn cho những ngày biển động, các tàu đánh cá không hoạt động được sẽ thiếu thức ăn cho cá hoặc có khi thức ăn bị tăng giá.

- Thức ăn công nhiệp dễ trộn thêm chất dinh dưỡng men vi sinh và các thành phần cần thiết vào thức ăn phòng và trị bệnh cho cá khi cần.

Hiện nay Việt Nam chưa sản xuất thức ăn công nghiệp riêng cho cá chình, chỉ có vài loại của nước ngoài nhập qua đường tiểu ngạch, thức ăn này chưa được cơ quan chức năng kiểm tra.

 

V. PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO CÁ CHÌNH

Nói về bệnh, động thực vật loài nào cũng phải có bệnh nói chung và cá chình nói riêng, tuy rằng cá chình trong giai đoạn trưởng thành rất ít bệnh nhưng không phải là không bệnh nên người nuôi không nên chủ quan .

Môi trường nuôi cá chình lâu ngày do thức ăn dư thừa phân hủy, cá đi ngoài, môi trường luôn thay đổi, nhiều vi khuẩn,.. v..v... vì vậy cá sẽ bị nhiễm khuẩn ký sinh và nhiều bệnh khác.

 

1. Bệnh trùng quả dưa:

+ Nguyên nhân: do trùng quả dưa ký sinh trên cá

+ Triệu chứng: Trên thân cá có đốm trắng to, nhỏ như đầu ghim. Những chấm này khi vỡ tung ra các ấu trùng vào trong nước. Những chỗ vỡ tạo thành các vết loét trên thân cá tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể cá.

+ Phòng trị bệnh: Tắm  bằng xanhmethylen liều lượng 1ppm liên tục trong 3-4 ngày, formalin 25-30 ppm trong 7-8 ngày, tắm nước muối cho cá nồng độ 5 – 7% (Xử lý VIABA: hoặc PKZ)

 

2. Bệnh nấm thủy my:

+ Nguyên nhân: Do nấm thủy my, dễ bị bệnh khi ươn nuôi với mật độ dày, cho ăn thiếu dinh dưỡng, nhiệt độ xuống thấp, môi trường nước bị nhiễm nitơ (NH3 > 2 mg/l).

+ Triệu chứng: Nấm thủy my kí sinh đơn bào ở điều kiện nhiệt độ thấp 18 – 25oC gây nên, khi cá bị bệnh trên thân có những búi trắng, đó là những sợi nấm bám vào cá phát triển, khi cá bị viêm loét thì nấm sẽ phát triển nhanh, biểu hiện cá hay bơi cọ sát vào thành bể.

+ Phòng trị bệnh: Ngâm trong nước muối có nồng độ 5%o trong 10 phút, sau đó thả cá vào bể nước sạch. Nên dùng thuốc tím xử lý 700G/1.000m3 sau khi thấy nấm đã hết trên thân cá thì sát khuẩn bằng M5: 100ml/1.500m3)

 

3. Cá bị ký sinh trùng mỏ neo, trùng bánh xe.

+ Nguyên nhân:

+ Triệu chứng: Cá bơi lờ đờ, da bị tuột nhớt, cá bỏ ăn, chậm lớn.

+ Phòng trị: Cho ăn thuốc, diệt kí sinh nội, ngoại ( KST: 2ml/kg thức ăn hoặc KOSA: 1,5ml/kg thức ăn. Xử lý VIABA: 100ml/3.000m3  hoặc PKZ: 100ml/6.000m3)

 

4. Cá bị gan thận mủ (bệnh đốm trắng trên gan, thận).

+ Nguyên nhân: do vi khuẩn đáy ao bị ô nhiễm lâu ngày.

+ Trị: EPT: 2,5g/kg thức ăn kết hợp TRIMISUL: 10g/kg thức ăn và EMS - G: 2ml/kg thức ăn và áo lại bằng MENOL: 10ml/kg thức ăn kết hợp xử lý M5: 100ml/1.500m3)

 

5.Bệnh sưng mang, cá đánh đu

+ Nguyên nhân:  Do môi trường nước không tốt, nhiễm độc, thiếu oxygen, NH3 tăng…

+ Phòng và trị: Cần chuyển cá qua nguồn nước sạch (Xử lý ETO kết hợp với EVER NEW).

 

6. Mụn lở ở ngực, cụt đuôi:

+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể

+ Cho ăn ENROMAX: 3g/kg thức ăn kết hợp với EMS - G: 2ml/kg thức ăn và áo lại bằng MENOL: 10ml/kg

+ Xử lý Super kill cá thịt 100ml/3.000m3 xử lý ký sinh trùng và cá loại ghẻ, sau đó sát khuẩn bằng M5: 100ml/1.000m3. Phòng trị bệnh: bổ sung thêm vitamin, khoáng chất, tắm thuốc tím (KMn04) định kỳ hàng tháng.

 

VI. CHẤT LƯỢNG &  THỊ TRƯỜNG 

a) Chất lượng:

Việt Nam mới nuôi cá chình trong thời gian gần đây nên chưa có quy trình nuôi thống nhất, mỗi người nuôi một kỹ thuật khác nhau và chỉ nuôi theo kiểu truyền thống nên cá chưa lớn nhanh và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu qua các nước có nhu cầu khó như Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu,v..v.... người nuôi nên đổi mới phương pháp nuôi nhằm nâng cao chất lượng để xuất khẩu có giá trị kinh tế cao hơn.

 

b). Thị trường:

  Thị trường giá cá chình từ nhiều năm qua luôn ở mức cao. Hiện nay có nhiều thương lái như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản tìm đến Việt Nam mua cá thương phẩm nhưng do nước ta chưa nuôi đủ số lượng cấp cho các quốc gia này, hiện nay Việt Nam còn phải nhập cá chình đường tiểu ngạch để phục vụ nhu cầu trong nước.

 

c. Hiệu quả kinh tế:

 Từ trước đến nay giá cá chình rất ổn định nên bà con nuôi cá chình sẽ được hiệu quả cao,

Cá chình là loại thủy sản được nhiều người ưa thích, nhiều nước trên thế giới ưa chuộng nên con cá chình giải quyết được ao hồ còn bỏ trống và tạo công ăn việc làm cho địa phương, tăng thu nhập kinh tế cho gia đinh.

 


 

Chuyên cung cấp sỉ và lẻ cá cao cấp như cá chép giòn giá rẻ, cá chình giá rẻ, cá lăng giá rẻ, cá tầm giá rẻ, cá chạch quế giá rẻ, cá trắm giòn giá rẻ, cá diêu hồng giá rẻ và một số loại cá cao cấp giá rẻ khác, phục vụ nhu cầu của Quý khách hàng khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Quý khách hàng cả nước nói chung.

Kết quả hình ảnh cho cho cá chinh an

Trân trọng!

CÔNG TY TNHH MTV NGUYỄN VŨ SƠN

154 /1 Tô Ngọc Vân, Thạnh Xuân, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh

Hotline : 0974 191 044 - 0983 188 663

http://cachepgiongiare.com

 

Hân hạnh được phục vụ!

Ngày cập nhật 2016/10/03 Tác giả: 24h.com
CẢI TIẾN KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHÌNH TẠI VIỆT NAM

Viết 1 ý kiến

Têncủa bạn:


Ý kiến của bạn: Chú ý: Không hỗ trợ HTML !

Đánh giá: Tệ           Tốt

Vui lòng nhập số vào ô bên dưới:

Reload

sitemap Thiết kế website bởi Công Ty Gia Hân

BACK TO TOP